Total Pageviews

Popular Posts

Search This Blog

Loading...

Followers

Pages

Wednesday, April 20, 2011

ON THI DAI HOC NAM 2011 MON LICH SU

TÀI LIỆU BỔ TRỢ KIẾN THỨC PHỤC VỤ THI ĐẠI HỌC

MÔN: LỊCH SỬ

BÀI 1:

CÔNG CUỘC KHAI THÁC THUỘC ĐỊA LẦN THỨ 2 CỦA THỰC DÂN PHÁP VÀ NHỮNG

TÁC ĐỘNG ĐẾN KINH TẾ - XÃ HỘI VIỆT NAM SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI LẦN I

1. Chính sách khai thác thuộc địa của Pháp

a/. Nguyên nhân:

- Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 - 1918), mặc dù là nước thắng trận nhưng Pháp vẫn bị chiến tranh tàn phá nặng nề, kinh tế sa sút.

- Nhằm phục hồi lại đất nước sau chiến tranh, Pháp đổ xô sang các thuộc địa để vơ vét, bóc lột nhằm phục vụ cho việc khôi phục kinh tế và tiếp tục phát triển tư bản.

- Đông Dương là một thuộc địa quan trọng và béo bở nên Pháp đẩy mạnh khai thác ở đây.

b/. Quá trình khai thác thuộc địa ở Việt Nam:

- Để tiến hành khai thác thuộc địa Pháp tăng cường đầu tư nhanh và mạnh vào Việt Nam. Chỉ 6 năm (1924-1929) Pháp đã đầu tư vốn gấp 6 lần so với 20 năm trước chiến tranh .

- Số vốn đó Pháp tập trung đầu tư vào 4 lĩnh vực chủ yếu để khai thác:

+ Nông nghiệp: Cướp đất lập đồn điền (chủ yếu là đồn điền cao su). Năm 1930 Pháp đã chiếm đến 1,2 triệu hecta đất để trồng cao su.

+ Công nghiệp: Pháp đẩy mạnh khai thác mỏ (chủ yếu là mỏ than). Nhiều công ty than ra đời như: công ty than Hạ Long, Đông Triều… Ngoài ra Pháp còn mở thêm một số cơ sở công nghiệp không có khả năng cạnh tranh với Pháp (chủ yếu là công nghiệp chế biến).

+ Thương nghiệp: Ban hành luật đóng thuế nặng hàng ngoại nhập của các nước khác (nhất là của Trung Quốc, Nhật Bản) để độc chiếm thị trường Việt Nam.

+ Giao thông vận tải: Pháp đầu tư mở thêm nhiều tuyến đường nhằm phục vụ đắc lực cho việc lưu thông hàng hóa và chuyên chở vật liệu xuất khẩu.

2. Tác động của cuộc khai thác thuộc địa đến kinh tế Việt Nam

- Quá trình khai thác thuộc địa của Pháp làm cho nền kinh tế Việt Nam có sự chuyển biến theo hướng tư bản chủ nghĩa.

- Tuy nhiên, do mục đích của Pháp muốn biến Việt Nam thành thị trường cung ứng nguyên vật liệu và tiêu thụ hàng hóa nên tác dụng của phương thức sản xuất TBCN du nhập vào cũng rất hạn chế.

- Mặt khác, do Pháp vẫn tiếp tục duy trì quan hệ sản xuất phong kiến ở Việt Nam, vẫn sử dụng giai cấp địa chủ phong kiến làm chỗ dựa nên Việt Nam là nước thuộc địa nửa phong kiến, nền kinh tế Việt Nam vẫn là nền kinh tế đan xen phương thức sản xuất TBCN và phương thức sản xuất phong kiến.

3. Tác động của cuộc khai thác thuộc địa đến xã hội Việt Nam

- Công cuộc khai thác thuộc địa của Pháp đã làm cho xã hội Việt Nam bị phân hóa sâu sắc. Bên cạnh những giai cấp cũ đã xuất hiện các giai cấp mới.

- Mỗi giai cấp xã hội có địa vị và quyền lợi khác nhau nên thái độ chính trị cũng khác nhau trong các cuộc đấu tranh.

a/. Đối với giai cấp cũ:

- Giai cấp địa chủ phong kiến: bị chia làm 2 bộ phận, mỗi bộ phận có thái độ chính trị khác nhau.

+ Bộ phận nhỏ là đại địa chủ giàu có nhờ dựa vào Pháp, vì thế bộ phận này theo Pháp chống lại cách mạng.

+ Bộ phận lớn là tiểu địa chủ và trung nông, do bị Pháp chèn ép về kinh tế nên ít nhiều có tinh thần chống đế quốc và tham gia phong trào yêu nước khi có điều kiện.

- Giai cấp nông dân: chiếm hơn 90% dân số, là nạn nhân của các chính sách sưu thuế, địa tô, phu phen… dưới chế độ phong kiến.

+ Công cuộc khai thác thuộc địa của Pháp càng làm cho nông dân bị bần cùng hóa.

+ Do bị áp bức, bóc lột nặng nề bởi thực dân và phong kiến, lại là giai cấp giàu lòng yêu nước nên tinh thần chống đế quốc và phong kiến của nông dân rất cao. Họ chính là lực lượng hăng hái và đông đảo nhất của cách mạng.

b/. Đối với giai cấp và tầng lớp mới:

- Giai cấp tư sản: Giai cấp tư sản Việt Nam ra đời sau chiến tranh thế giới lần thứ I, trong quá trình phát triển phân hóa thành 2 bộ phận

+ Một bộ phận tư sản mại bản có quyền lợi gắn với đế quốc nên cấu kết chặt chẽ về chính trị với Pháp.

+ Một bộ phận là tư sản dân tộc có khuynh hướng kinh doanh độc lập, phát triển kinh tế dân tộc nên ít nhiều có tinh thần dân tộc, chống đế quốc và phong kiến. Nhưng tư sản dân tộc không có lập trường kiên định, dễ thỏa hiệp khi đế quốc mạnh.

- Tầng lớp tiểu tư sản: ra đời cùng thời gian với giai cấp tư sản.

+ Tầng lớp tiểu tư sản cũng bị đế quốc bạc đãi, đời sống bấp bênh, dễ bị xô đẩy vào đường thất nghiệp và phá sản.

+ Tầng lớp tiểu tư sản nhạy bén với tình hình chính trị, có tinh thần cách mạng, hăng hái đấu tranh

+ Tầng lớp tiểu tư sản là một lực lượng quan trọng của cách mạng Việt Nam.

- Giai cấp công nhân: Ra đời vào những năm đầu thế kỷ XX và trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai càng phát triển về số lượng và chất lượng (từ 14 vạn năm 1914 lên 22 vạn năm 1929).

Ngoài những đặc điểm chung của công nhân quốc tế, công nhân Việt Nam còn có những đặc điểm riêng như sau:

+ Giai cấp công nhân chịu nhiều tầng áp bức bóc lột nên cuộc sống vô cùng khốn khổ và là giai cấp có tinh thần cách mạng cao nhất

+ Có quan hê tự nhiên gắn bó với giai cấp nông dân

+ Kế thừa truyền thống yêu nước, bất khuất của dân tộc

+ Có điều kiện sớm tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin và phong trào cách mạng thế giới.

+ Giai cấp công nhân Việt Nam với những đặc điểm của mình đã trở thành lực lượng chính của cách mạng, là giai cấp nắm giữ ngọn cờ lãnh cờ lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc của Việt Nam.

4. Các mâu thuẫn cơ bản trong xã hội Việt Nam

- Do tác động của cuộc khai thác thuộc địa lần thứ 2 của Pháp làm cho xã hội Việt Nam nảy sinh 2 mâu thuẫn cơ bản:

+ Mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp

+ Mâu thuẫn giữa giai cấp nông dân với địa chủ phong kiến

- Hai mâu thuẫn này vừa là nguồn gốc vừa là động lực làm nảy sinh và thúc đẩy phong trào yêu nước, chống thực dân và phong kiến ở Việt Nam./.


BÀI 2:

PHONG TRÀO CÁCH MẠNG VIỆT NAM SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI LẦN I

I. Phong trào yêu nước (1919 - 1925)

1. Điều kiện ra đời và phát triển của phong trào yêu nước

- Sau chiến tranh thế giới lần I giai cấp tư sản và tiểu tư sản Việt Nam xuất hiện và bước lên vũ đài chính trị.

- Chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn (Trung Quốc) chi phối mạnh mẽ đến phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản ở Việt Nam.

2. Các phong trào đấu tranh

a/. Phong trào của giai cấp tư sản dân tộc:

- Năm 1919 tư sản dân tộc tổ chức phong trào chấn hưng hàng nội hóa, bài trừ hàng ngoại hóa.

- Năm 1923 đấu tranh chống độc quyền cảng Sài Gòn và độc quyền xuất khẩu lúa gạo ở Nam kỳ của Pháp.

- Một số tư sản và địa chủ Nam kỳ (đại biểu là Bùi Quang Chiêu, Nguyễn Phan Long…) thành lập đảng Lập Hiến để tập tranh thủ sự ủng hộ của quần chúng làm áp lực với Pháp, nhưng khi thực dân Pháp nhượng bộ cho ít quyền lợi thì họ thỏa hiệp với Pháp.

b/. Phong trào của các tầng lớp tiểu tư sản

- Các tầng lớp tiểu tư sản thể hiện lòng yêu nước bằng cách tham gia các phong trào dân chủ công khai và tập hợp nhau lại trong những tổ chức yêu nước mới.

- Những tổ chức chính trị tiêu biểu của tiểu tư sản là Việt Nam Nghĩa Đoàn (1925), Hội Phục Việt (1925), Hội Hưng Nam (1926), Đảng Thanh niên (1926)…

- Các tổ chức này cho ra đời những tờ báo tiến bộ như: Chuông Rè, An Nam trẻ… và lập ra những nhà xuất bản tiến bộ như: Cường Học Thư Xã (Sài Gòn), Nam Đồng Thư Xã (Hà Nội)…

- Họ dùng sách báo làm phương tiện truyền bá tư tưởng yêu nước, tiến bộ và nêu lên quan điểm chính trị của mình.

- Trong cao trào yêu nước giai đoạn này có 3 sự kiện tiêu biểu, đó là: Tiếng bom Sa Diện của Phạm Hồng Thái (1924), cuộc đấu tranh đòi thả Phan Bội Châu (1925) và đám tang Phan Châu Trinh (1926).

* Nhìn chung:

- Phong trào đấu tranh của giai cấp tư sản dân tộc tuy thể hiện lòng yêu nước nhưng mang tính chất thỏa hiệp, cải lương và ngày càng xa rời và đối lập với quần chúng.

- Hoạt động của tầng lớp tiểu tư sản mạnh mẽ hơn, chứa đựng nhiều yếu tố tiến bộ, được quần chúng ủng hộ, song do thiếu đường lối chính trị đúng đắn nên cũng không thể đưa cuộc đấu tranh đến thắng lợi.

II. Phong trào Công nhân (1919 - 1925)

1. Sự ra đời của giai cấp công nhân Việt Nam

- Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời từ cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất và trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai càng phát triển về số lượng và chất lượng (từ 14 vạn năm 1914 lên 22 vạn năm 1929).

- Ngoài những đặc điểm chung của công nhân quốc tế, công nhân Việt Nam còn có những đặc điểm riêng như sau:

+ Giai cấp công nhân chịu nhiều tầng áp bức bóc lột nên cuộc sống vô cùng khốn khổ và là giai cấp có tinh thần cách mạng cao nhất

+ Có quan hê tự nhiên gắn bó với giai cấp nông dân

+ Kế thừa truyền thống yêu nước, bất khuất của dân tộc

+ Có điều kiện sớm tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin và phong trào cách mạng thế giới.

- Giai cấp công nhân Việt Nam với những đặc điểm của mình đã trở thành lực lượng chính của cách mạng, là giai cấp nắm giữ ngọn cờ lãnh cờ lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc của Việt Nam.

2. Phong trào Công nhân giai đoạn 1919 – 1925

- Thời kỳ đầu do số lượng ít, trình độ giác ngộ còn thấp nên những cuộc đấu tranh của công nhân chỉ diễn ra lẻ tẻ, rời rạc.

- Mục đích đấu tranh thời kỳ đầu chủ yếu đòi quyền lợi về kinh tế như tăng tiền lương, giảm giờ làm…

- Từ cuối năm 1919 trở đi phong trào công nhân ngày càng phát triển cao hơn

- Trong những năm từ 1919 – 1925 ở Việt Nam đã nổ ra 25 cuộc đấu tranh riêng lẻ của công nhân, có quy mô tương đối lớn.

- Mở đầu là cuộc bãi công của công nhân thủy thủ Hải Phòng và Sài Gòn

- Năm 1924 nổ ra nhiều cuộc bãi công của công nhân các nhà máy dệt, rượu, xay gạo ở Hà Nội, Nam Định, Hải Dương.

- Nổi bật nhất là cuộc bãi công của công nhân xưởng đóng tàu Ba Son (Sài Gòn) năm 1925.

+ Cuộc bãi công của công nhân Ba Son nhằm không cho tàu chiến Pháp đưa lính sang đàn áp cách mạng Trung Quốc.

+ Cuộc bãi công của công nhân Ba Son thắng lợi đánh dấu bước tiến mới của phong trào công nhân Việt Nam.

+ Mở đầu thời kỳgiai cấp công nhân đi từ đấu tranh tự phát sang đấu tranh tự giác.

* Nhìn chung:

- Phong trào công nhân giai đoạn 1919-1925 còn mang tính chất tự phát

- Tuy vậy, phong trào công nhân cũng đã giữ một vị trí quan trọng trong phong trào cách mạng Việt Nam giai đoạn sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất./.


BÀI 3:

QUÁ TRÌNH TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC

VÀ VAI TRÒ CỦA NGƯỜI TRONG VIỆC THÀNH LẬP ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

I. Quá trình tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc

1. Vài nét về hoàn cảnh lịch sử

- Nguyễn Ái Quốc sinh ngày 19-05-1890 tại làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.

- Lúc nhỏ tên là Nguyễn Sinh Cung, lớn lên lấy tên là Nguyễn Tất Thành.

- Sinh trong một gia đình nhà Nho nghèo yêu nước, trên miền quê có truyền thống đấu tranh cách mạng và sớm được tiếp xúc với nhiều nhà cách mạng đương thời.

- Xuất phát từ lòng yêu nước nồng nàn và trên cơ sở rút kinh nghiệm thất bại từ các thế hệ yêu nước đi trước, Nguyễn Tất Thành quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước.

2. Quá trình tìm đường cứu nước

- Ngày 5-6-1911 Nguyễn Ai Quốc lấy tên là Ba, xin làm phụ bếp trên tàu Trevile rời cảng Nhà Rồng bắt đầu cuộc hành trình đi tìm đường cứu nước.

- Năm 1912, Nguyễn Ai Quốc xin làm thuê một chiếc tàu khác để từ Pháp đi đến nhiều nước khác như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Anh, Mỹ…

- Qua nhiều năm đi nhiều nước khác nhau trên thế giới, Nguyễn Ai Quốc nhận rõ: “Giai cấp công nhân và nhân dân các nước đều là bạn, chủ nghĩa đế quốc ở đâu cũng là thu”.

- Năm 1917, khi Cách mạng tháng Mười Nga diễn ra thắng lợi, Nguyễn Ai Quốc từ Anh về Pháp, tham gia hoạt động trong phong trào công nhân Pháp và tìm hiểu về Cách mạng tháng Mười Nga.

- Năm 1919, các nước đế quốc thắng trận họp ở Vecxây, Nguyễn Ai Quốc thay mặt những người Việt Nam yêu nước gửi tới hội nghị bản yêu sách 8 điểm đòi các quyền tự do dân chủ, bình đẳng và quyền dân tộc tự quyết.

- Bản yêu sách 8 điểm gây tiếng vang lớn đối với thế giới, từ đây tên Nguyễn Ai Quốc được nhiều người biết đến.

- Năm 1920 Nguyễn Ai Quốc đọc được “Sơ thảo lần thứ nhất Luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa” của Lênin, luận cương chỉ ra Nguyễn Ai Quốc con đường giải phóng dân tộc. Từ đó Nguyễn Ai Quốc quyết định đi theo Lênin và Quốc tế cộng sản.

- Tháng 12-1920, Nguyễn Ai Quốc bỏ phiếu tán thành Quốc tế III và tham gia thành lập Đảng cộng sản Pháp. Từ đó, Nguyễn Ai Quốc khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”.

* Như vậy:

- Sau nhiều năm bôn ba hải ngoại Nguyễn Ái Quốc đã tìm ra con đường cứu nước đúng đắn, đó là con đường cách mạng vô sản, con đường kết hợp độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội.

- Đây là công lao to lớn đầu tiên của Nguyễn Ai Quốc.

II. Nguyễn Ái Quốc với việc truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam và thành lập ra chính đảng của giai cấp vô sản

1. Thời kỳ ở Pháp (1920 - 1923)

- Tại Pháp Nguyễn Ái Quốc tích cực hoạt động trong phong trào công nhân để tranh thủ sự ủng hộ của giai cấp công nhân Pháp đối với Việt Nam.

- Nguyễn Ái Quốc tham gia “Hội những người Việt Nam yêu nước tại Pháp” để vận đồng bà con Việt Kiều tại Pháp ủng hộ cách mạng Việt Nam.

- Năm 1921, Nguyễn Ái Quốc tham gia sáng lập “Hội liên hiệp thuộc địa ở Paris” để gây tình đoàn kết giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới.

- Năm 1922, Nguyễn Ái Quốc tham gia sáng lập báo “Người Cùng Khổ” và viết cuốn “Bản án chế độ thực dân Pháp”

- Những sách báo do Nguyễn Ái Quốc viết nhằm tố cáo tội ác của thực dân Pháp, đồng thời còn để tuyên truyền chủ nghĩa Mác-Lênin và vận động quần chúng đấu tranh.

2. Thời kỳ ở Liên Xô (1923 - 1924)

- Giữa năm 1923, Nguyễn Ái Quốc từ Pháp sang Liên Xô dự Hội nghị Nông dân quốc tế.

- Sau đó Nguyễn Ái Quốc ở lại Liên Xô để hoạt động trong Quốc tế cộng sản và học tập thêm lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin.

- Năm 1924, Nguyễn Ái Quốc tham dự Đại hội V của Quốc tế cộng sản, tại đây Nguyễn Ái Quốc trình bày quan điểm của mình về cách mạng thuộc địa.

- Những hoạt động của Nguyễn Ái Quốc trong thời gian này đã giúp cho Nguyễn Ái Quốc hình thành 2 tư tưởng quan trọng là:

+ Chủ nghĩa đế quốc là kẻ thù chung của giai cấp vô sản và nhân dân các nước thuộc địa

+ Xác định giai cấp công nhân là giai cấp có đủ khả năng lãnh đạo cách mạng

Những tư tưởng này chính là cơ sở để thành lập ra chính đảng vô sản ở Việt Nam về sau.

3. Thời kỳ ở Trung Quốc (1924 - 1927)

- Năm 1924 Nguyễn Ái Quốc từ Liên Xô về Quảng Châu (Trung Quốc) để tập hợp những người yêu nước ở Việt Nam, truyền bá và giáo dục cho họ chủ nghĩa Mác-Lênin.

- Năm 1925, Nguyễn Ái Quốc thành lập ra tổ chức “Hội Việt Nam cách mạng thanh niên” và sáng lập ra báoThanh niên”.

- Năm 1927, Nguyễn Ái Quốc xuất bản cuốn “Đường Cách Mệnh” được tập hợp từ những bài giảng của Nguyễn Ái Quốc trong các lớp huấn luyện cho cán bộ cách mạng Việt Nam tại Trung Quốc.

* Những hoạt động của Nguyễn Ái Quốc đã có tác dụng quyết định trong việc chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập chính đảng của giai cấp vô sản ở Việt Nam. Đây là công lao rất to lớn của.


About Me

Hochiminh-City, Mien Nam, Vietnam
Tiến sĩ Sử học, giảng viên Truong Dai hoc Khoa hoc xa hoi va nhan van - Đại học Quốc gia TP.HCM