Total Pageviews

Popular Posts

Search This Blog

Followers

Pages

Wednesday, April 20, 2011

VAI TRO XA HOI CUA TON GIAO

VAI TRÒ XÃ HỘI CỦA TÔN GIÁO

Tôn giáo đóng một vai trò quan trọng trong đời sống của con người, đặc biệt trên lĩnh vực văn hóa, tinh thần. Tôn giáo góp phần vào việc cố kết, thống nhất cộng đồng dân tộc bắt đầu từ các hình thức tín ngưỡng sơ khai (Tôtem giáo) đến các tôn giáo lớn về sau này. Ở phương Tây cổ điển cũng như phương Đông huyền bí, ý thức tôn giáo luôn tạo ra một lối sống riêng, một cách ứng xử khác nhau của các dân tộc trên thế giới. Sự ảnh hưởng của tôn giáo vào đời sống xã hội là không chối cãi được. Sự ảnh hưởng đó đôi khi là trở lực kìm hãm sự phát triển của xã hội. Nhưng nó góp phần tạo nên những nền văn minh, những giá trị văn hóa khác nhau, (như nền văn minh Hồi giáo, văn minh Chính thống giáo, Kitô giáo, Nho giáo, Phật giáo)... Do vậy, tôn giáo tạo nên những dấu ấn riêng trong phong tục, tập quán, cách ứng xử vào văn học, nghệ thuật của cư dân chịu ảnh hưởng.

Tôn giáo đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống chính trị – xã hội. Đặc biệt, dưới thời Trung cổ, ở phương Tây đạo Kitô đóng một vai trò đặc biệt trong đời sống tinh thần, kinh tế, chính trị, xã hội. Mọi vấn đề liên quan đến con người, xã hội đều thuộc về Chúa. Kitô giáo chi phối tất cả các hoạt động của con người và xã hội. Giai cấp thống trị đã lợi dụng tôn giáo cho những mục đích chính trị – xã hội khác. Bởi vậy dưới thời phong kiến, châu Âu sống trong “Đêm trường Trung cổ”. Kitô giáo vì thế có một ý nghĩa to lớn trong đời sống chính trị – xã hội phương Tây. Còn ở các nước chịu ảnh Nho giáo như Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam... thì nó trở thành ý thức hệ căn bản, chi phối mạnh mẽ mọi mặt của đời sống xã hội. Tóm lại, tôn giáo đóng một vai trò quan trọng trong đời sống chính trị – hội của mọi thời đại.

Tuy nhiên, đối với mỗi cá nhân, từng con người trong xã hội, tôn giáo có một ý nghĩa vô cùng quan trọng. Bởi trong thực tế khi con người gặp nguy nan, tai biến con người được tôn giáo an ủi và bảo đảm hy vọng. khi con người mắc những tội lỗi, sai lầm, tôn giáo bày cho con người sám hối để tâm được yên tĩnh. Với niềm tin được thần linh phù hộ che chở, con người cảm thấy an toàn.

Tóm lại, tôn giáo có vai trò văn hóa khá rõ rệt trong đời sống xã hội. Trong tôn giáo, cái thiện vẫn là cái chủ yếu, ta có thể thấy ở bất kỳ tôn giáo nào cũng đều có những lời khuyên răn tốt đẹp. Tín ngưỡng tôn giáo vì thế trở thành một nhu cầu quan trọng của một bộ phận nhân dân. Trong tương lai, tôn giáo thu hẹp hơn vai trò xã hội do sự phát triển của khoa học kỷ thuật ngày càng mạnh mẽ. Niềm tin của con người vào thần thánh dần dần nhường chỗ cho niềm tin của con người vào thế giới thực tế, vào khoa học kỷ thuật. Tuy vậy, tôn giáo vẫn đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong cộng đồng, xã hội và con người.

CHỨC NĂNG XÃ HỘI CỦA TÔN GIÁO

Chức năng xã hội chủ yếu, đặc thù của tôn giáo là: đền bù hư ảo. Con người trong xã luôn tiềm ẩn hoặc hiển hiện những nỗi bất lực, yếu đuối nhất định. Do vậy, để đền bù lại sự bất lực yếu đối đó, con người cần đến một chỗ dựa vững chắc, một niềm an ủi nhất định để động viên, khích lệ họ tiến lên. Do vậy, con người cần đến tôn giáo. Bởi trong mối quan hệ với thế giới tự nhiên có những điều vượt qua giới hạn hiểu biết của con người. Thực tế đó, khiến con người cảm thấy bất lực trước mối quan hệ này. Cho nên, trong bất kỳ một xã hội nào ở trong những điều kiện lịch sử khác nhau tôn giáo đã và luôn đóng vai trò là yếu tố đền bù hư ảo cho sự bất lực yếu ớt của con người, an ủi, khuyến khích, động viên họ hướng vào những lực lượng siêu nhiên, do mình tưởng tượng ra để giải quyết sự yếu kém, bất lực của mình trước những hiện tượng tự nhiên và xã hội. Tôn giáo trở thành nguồn động viên, an ủi con người một cách rất hiệu quả. Nó có thể giúp con người lãng quên thế giới đầy những khó khăn, sự lo âu, nỗi sợ sệt trên trần thế để tìm đến một sự giải thoát trong thế giới hư hư - thực thực của tôn giáo. Tuy nhiên, chức năng này cũng tạo ra một tác dụng tiêu cực khác là làm cho con người xa rời cuộc đấu tranh của thế giới trần tục, tách quần chúng khỏi cuộc đấu tranh năng động, phức tạp, lâu dài, gian khổ của thế giới trần thế. Tóm lại, với chức năng đền bù hư ảo, tôn giáo có một ý nghĩa to lớn trong đời sống của con người.

Chức năng thứ hai: có ý nghĩa đặc biệt quan trọng là chức năng điều chỉnh. Bởi lẽ, tôn giáo tạo ra một hệ thống chuẩn mực và giá trị. Điều đó giúp cho việc điều chỉnh hành vi, cách ứng xử, nói năng của con người trong cộng đồng xã hội. Ngoài ra, nó định hướng con người trong cách đánh giá, nhìn nhận mối quan hệ đặc biệt giữa con người với giới tự nhiên, với siêu nhiên. Điều này hình thành nên thế giới quan của con người trong quan hệ với tự nhiên lẫn xã hội. Con người đặt trong mối quan hệ giữa tự nhiên và xã hội thông qua tôn giáo sẽ tự điều chỉnh mình cho phù hợp. Cho nên, tôn giáo giúp cho việc tạo ra những thang bậc giá trị và chuẩn mực trong xã hội. Bởi lẽ, suy cho cùng tôn giáo đề cao tính thiện, nhân văn, căn bản của con người. Nó vừa là thước đo giá trị vừa bảo vệ con người tránh sự lệch chuẩn của xã hội. Tôn giáo giữ cho con người khỏi những biểu hiện tha hóa của xã hội. Bởi họ được giáo dục lòng tin về những đấng siêu nhiên nào đó rất linh thiêng luôn ở bên cạnh cuộc sống và theo dõi những hành động của mình. Cho nên, tôn giáo cho con người lòng tin về tình yêu thương, sự chở che bao bọc của đấng linh thiêng ở xung quanh hoặc trên cao họ. Cho nên con người muốn tạo ra được sự liên kết với thần linh cũng như liên kết với cộng đồng xã hội thì phải luôn giữ mình trong sạch. Vì thế chức năng liên kết của tôn giáo tạo sự thanh tẩy cho tâm hồn, lối sống, hành vi của con người. Mặt khác với chức năng điều chỉnh, tôn giáo hạn chế nỗi đau, điều lo lắng của con người bằng cách hướng họ tới những chân trời mới. Niềm tin không lý giải hết của tôn giáo tạo cho con người có khả năng tự điều chỉnh suy nghĩ, cách tư duy của mình trước những vấn đề nan giải của bản thân, cộng đồng xã hội. Chính điều này đã làm nổi bật chức năng điều chỉnh của tôn giáo.

Chức năng thứ ba của tôn giáo là liên kết. Tôn giáo không chỉ có ý nghĩa về mặt tâm linh cho một con người, một tập thể nhất định. Nó còn có một mối liên hệ đặc biệt với hệ thống chính trị - xã hội. Trong quá khứ và hiện tại, tôn giáo luôn có chức năng quan trọng đó. Theo từng thời kỳ lịch sử từng quốc gia, khu vực nhất định, mỗi nơi chọn cho mình một niềm tin, một tôn giáo nhất định vừa đóng vai trò định hướng niềm tin của cá nhân, cộng đồng vừa liên hệ với hệ thống chính trị - xã hội. Mặt khác, tôn giáo có khả năng liên kết cá nhân, cộng đồng chặt chẽ hơn đối với những con người cùng một niềm tin tôn giáo. Sự liên kết đó thể hiện cụ thể trong mối quan tâm, giúp đở lẫn nhau trong những dịp lễ lộc, ngày tết, tang ma, cưới xin…Những người có cùng niềm tin tôn giáo còn giúp đở, an ủi nhau trong những biến động, hoạn nạn, đau khổ…Chính điều này làm cho cuộc sống của con người càng thêm gắn bó với nhau hơn và tràn đầy tính nhân văn, nhân bản. Tôn giáo chân chính hướng con người đến điều thiện vì thế tính liên kết của tôn giáo tạo ra những giá trị căn bản của con người trong mối liên hệ cá nhân, cộng đồng, xã hội.

Tóm lại, tôn giáo có chức năng, vai trò rất quan trọng trong đời sống chính trị - xã hội lẫn đời sống tâm linh của con người trong cộng đồng, quốc gia - dân tộc. Mặc dù nó là một "thế giới quan lộn ngược", nhưng nó là nơi nương náu tâm linh của con người trong mọi thời đại. Vì thế, tôn giáo là một hiện tượng xã hội - văn hóa - đạo đức được phổ biến ở các nước trên thế giới và tồn tại từ xa xưa cho đến ngày nay trong lịch sử. Việc phân tích, đánh giá vai trò, chức năng của tôn giáo luôn là vấn đề phức tạp, xuất hiện nhiều quan điểm khác nhau. Nhưng có một thực tế là khi gặp bất trắc, khó khăn, gian nguy, tai nạn thì tôn giáo trở thành niềm an ủi, hy vọng của con người. Mặt khác khi con người vấp phải sai lầm, phạm tội lỗi thì tôn giáo bày cho con người cách sám hối. Tôn giáo che chở, phù hộ cho con người để họ cảm thấy an toàn trước mọi biến loạn của cuộc sống. Cho nên tôn giáo luôn đóng một vai trò, chức năng vô cùng quan trọng của đời sống con người trong cộng đồng xã hội.

TÓM TẮT

Cuối thế kỷ XVIII, vua Louis XVI của vương triều Buôcbông không có nhiều tài cán như các vị vua trước. Thêm vào đó, hoàng hậu Antoanet (vợ vua - công chúa nước Áo) lại tham chính. Triều đình sống vô cùng xa hoa, hoang phí cho nên số nợ lên đến 4,5 tỷ fran, nên ngân hàng không cho vay lãi nữa. Cuộc khủng hoảng tài chính đã đưa nhà vua vào cảnh cùng quẫn. Cuối cùng nhà vua phải triệu tập hội nghị 3 đẳng cấp (khoảng 170 năm chưa họp) vào mùa xuân năm 1789 để giải quyết các vấn đề tài chính của triều đình, nhưng đẳng cấp thứ ba không muốn điều đó.

Vì thế, ngày 17/06/1789, đẳng cấp thứ 3 tuyên bố họ là Quốc dân hội nghị, đại biểu cho toàn dân. Nhân dân Paris ủng hộ họ.

Ngày 20/06/1789, nhà vua đóng cửa hội trường không cho đại biểu đẳng cấp thứ 3 họp. Nhưng đẳng cấp thứ 3 tuyên bố sẽ không giải tán khi không soạn thảo xong hiến pháp. Cuối cung 2nhà vua phải đồng ý cho 3 đẳng cấp họp chung.

Ngày 9/7/1789 Quốc dân hội nghị đổi tên là Quốc hội lập hiến. Nhà vua chuẩn bị đàn áp, nhưng nhân dân cũng đã chuẩn bị cho cuộc nổi dậy. Từ tối 12/7/1789 đã nổ ra cuộc tổng khởi mở màn cho cuộc Đại Cách mạng Pháp.

Cuộc cách mạng tư sản Pháp là một cuộc cách mạng vĩ đại trong lịch sử, chia thành 3 giai đoạn chủ yếu sau:

Giai đoạn I: 14/7/1789 - 10/8/1792, giai đoạn cầm quyền của phái Lập hiến.

Sau ngày 12/7/1789 nhân dân Paris đã chiếm các kho vũ khí, thành lập một uỷ ban lãnh đạo và theo lệnh của uỷ ban nhân dân đã rèn đúc vũ khí thô sơ. Ủy ban vệ quốc được thành lập.

Ngày 14/7/1789, nhân dân đã chiếm ngục Basti, Paris cũng lọt vào tay nghĩa quân. Giai cấp tư sản đã nắm được chính quyền, dù vẫn bảo tồn sự trị vì của vua Louis 16. Đây là giai đoạn Lập hiến. Trong giai đoạn này chính quyền đã làm được những việc sau:

+ Thương lượng với nhà vua để thành lập chính phủ Lập hiến.

+ Công bố Pháp lệnh tháng 8 vào ngày 4 & 11 tháng 8; qui định đại biểu quí tộc trong hội nghị lập hiến phải từ bỏ các đặc quyền phong kiến khác.

+ Ngày 26/8/1789 Hội nghị Lập hiến đã thông qua "Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền", "Tự do, bình đẳng, bác ái".

+ Chính phủ đã thực hiện sự thay đổi về hành chính, tháng 1/1790, nước Pháp chia làm 83 quận, hệ thống hành chính thống nhất, thị trường mở rộng, tạo điều kiện cho chủ nghĩa tư bản phát triển. Tháng 1/1791, vua định chạy trốn nhưng bị phát hiện và bắt về Paris. Nhân dân phẩn nộ đòi đưa nhà vua ra xét xử. Nhưng chính phủ Lập hiến dùng binh lính đàn áp họ, bảo vệ nhà vua. Vì thế, chính quyền cách mạng đã lộ rõ tính phản động của nó.

+ Quốc hội lập hiến đã soạn thảo xong bản Hiến Pháp. Vua Louis 16 đã thông qua Hiến Pháp vào tháng 9/1791, nhằm khẳng định chính thể mới của nước Pháp và củng cố quyền lợi của giai cấp tư sản. Tuy nhiên, Hiến pháp này còn rất nhiều mặt hạn chế của nó.

Ngày 30/9/1791, Quốc hội lập hiến giải tán, Quốc hội lập pháp được thành lập gồm 766 đại biểu, trong đó chỉ có 3 nông dân, 4 thợ thủ công, còn tuyệt đại bộ phận là người của phái quân chủ lập hiến. (Nhiều nhà dân chủ của Quốc hội lập hiến trước đó không được quyền tham gia Quốc hội lập pháp). Đây là giai đoạn mà phái hữuphái giữa khống chế Quốc hội. Còn phái tả chia thành hai nhóm chủ yếu: Ghigôngđanh & Giacôbanh.

Đây là giai đoạn Quốc hội lập pháp điều hành công việc trong nước. Nền quân chủ lập hiến.

Tuy nhiên, đây là thời kỳ mà các lực lượng phản động trong và ngoài nước điên cuồng chống phá cách mạng. Bên ngoài Áo - Phổ liên minh với phong kiến Pháp lưu vong chuẩn bị đánh Pháp. Nhân đó, vua Louis 16 muốn mượn thế lực của bên ngoài để đàn áp cách mạng, khôi phục ngai vàng. Hoàng hậu bí mật đưa kế hoạch tác chiến cho Áo nên tình hình cáng phức tạp.

Nhân dân và phái dân chủ cấp tiến yêu cầu kháng chiến. Quần chúng đã xây dựng công xã Paris vào tháng 6/1792. Quần chúng nhân dân làm áp lực. Hội nghị Lập hiến tuyên bố "Tổ quốc lâm nguy" và kêu gọi nhân dân cầm vũ khí bảo vệ tổ quốc.

Phái dân chủ tích cực hoạt động lật đổ nhà vua thành lập nền cộng hòa. Ngày 25 tháng 7 công tước Áo tuyên bố nhà vua bị xúc phạm y sẽ huỷ diệt Paris. Lời tuyên bố đó khiến nhân dân căm giận. Họ yêu cầu phế truất nhà vua, triệu tập Hội nghị quốc ước và chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang.

Ngày 9/8/1792, nhân dân Paris kéo vào hoàng cung. Dưới sức mạnh của cuộc khởi nghĩa của quần chúng nhân dân, cách mạng đã chuyển sang giai đoạn mới

Giai đoạn II: 10/8/1792 - 2/6/1793, thành lập nền Cộng hòa, chính quyền của phái Girondins.

Dưới sức mạnh của quần chúng nhân dân trong cuộc khởi nghĩa ngày 10/8/1792, Quốc hội lập pháp buộc phải phế truất nhà vua, triệu tập Hội nghị Quốc ước, kết thúc nền quân chủ lập hiến, thủ tiêu hiến Pháp 1791.

Phái Gicôbanh đã kiên quyết chống ngoại xâm, xây dựng quân đội, đúc vũ khí, xây dựng phòng tuyến quanh Paris. Ngày 2/9/1792 quân Phổ đánh Vecđoon, Công xã kêu gọi thêm người tình nguyện chiến đấu. Từ 2 - 5/9/1792, quân cách mạng tiêu diệt bạn phản động trong nước, sau đó tiên thẳng ra ngoài biên cương, đánh tan quân Phổ ở trận Vanni, đuổi quân thù ra khỏi bở cõi ở mặt trận phía đông của mình.

Ngày 21/9/1792, hội nghị Quốc ước khai mạc phiên họp đầu tiên, chính thức tuyên bố phế truất vua. Trong hội nghị Quốc ước có nhiều phe phái, nên cuộc đấu tranh vẫn tiếp tục, đẩy cách mạng tiến lên một cách gay gắt. (Phái hữu: Girondins, phái tả: Giacôbanh (phái Núi). Phái Đầm lầy, đông đảo nhất, nhưng nghiêng ngả giữa hai bên. Trong đó, phái hữu sợ đẩy cách mạng tiến lên sẽ sinh ra nguy hiểm. Phái tả muốn tiến lên. Phái đầm lầy nghiên ngả hai bên. Cuối cùng phái Giacôbanh vẫn là phái làm cách mạng kiên quyết nhất.

Tiêu điểm của cuộc đấu tranh là việc xử lý nhà vua. Kết quả, nhà vua bị kết án tử hình và đưa lên máy chém ngày 21/1/1793. sau đó Hoàng hậu cũng bị xét xử. Phái Girondins ngày càng bảo thủ.

Cuối cùng phái Giacôbanh và phái Girondins vì mâu thuẫn nhau trong việc giải quyết giá cả hàng hóa trong nước nên phái Girondins tức giận, khủng bố những người cách mạng. Nhân dân căm phẩn, vì không lật đổ phái này thì cách mạng có nguy cơ bị tiêu diệt. Vì thế cách mạng tư sản Pháp chuyển sang một giai đoạn khác đưa phái Giacôbanh lên nắm chính quyền, kết thúc giai đoạn II của cuộc cách mạng.

Giai đoạn III: Nền chuyên chính Jacobins: 3/6/1793 - 27/7/1794

Phái Jacôbanh bước lên địa vị lãnh đạo cách mạng trong điều kiện đất nước vô cùng khó khăn. Tình hình trong nước vô cùng phức tạp. Bên ngoài nước Pháp đã bị các thế lực thù địch bao vây cả 6 mặt. Quân Anh (p.Bắc, p.Tây và p.Nam); tại đây họ đã ủng hộ các thế lực phong kiến đưa con của Louis 16 lên làm vua ở Tulông là Louis 17 để được quyền lợi ở cảng này. Còn phía Đông Bắc là quân Hà Lan. Quân Phổ và quân Áo ở phía Đông. Biên giới phía Nam bị quân Tây Ban Nha đe dọa.

Phái Giacôbanh đã thi hành những chính sách quyết liệt giải quyết những vấn đề mấu chốt của cách mạng mới của nguy của nước Pháp, bảo vệ nền Cộng hòa tư sản.

+ Giải quyết vấn đề ruộng đất của nông dân

+ Ngày 24/6/1793, Hội nghị Quốc ước thông qua Hiến pháp mới

+ Phát lệnh Tổng động viên vào ngày 23/8/1793 để lập lực lượng vũ trang cách mạng. Ngày 10/10/1793 hội nghị Quốc ước đã ban hành sắc lệnh thành lập chính phủ lâm thời, xác lập nền chuyên chính Giacôbanh.

Từ tháng 9 - 12/1793 quân cách mạng đã đẩy dần quân thù ra biên giới. Nhiều người đã lập được được chiến công lừng lẫy như đại úy trẻ tuổi Napoleon Bonaparte trong trận Tulông. Nền độc lập được giữ vững, chế độ cộng hòa tư sản được bảo vệ, nền chuyên chính Giacôbanh ở đỉnh cao. Đó cũng chính là điểm chấm dứt nền thống trị của nó. Nền chuyên chính Giacôbanh tan vỡ.

Sau khi giai cấp tư sản hoàn toàn nắm quyền lực thì lợi ích của họ được đặt lên hàng đầu, tìm mọi cách ngăn chặn sự phát triển của cách mạng. Do vậy, ngay khi tin thắng trận thì ngày 27/7/1794, phái Tecmiđo phái cộng hòa tư sản đã làm cuộc chính biến, lật đổ phái Giacôbanh lên nắm chính quyền 15/10/1794.

TIN NGUONG THO CUNG TO TIEN CUA GIA DINH VIET NAM

TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG TỔ TIÊN Ở VIỆT NAM

I NGUỒN GỐC CỦA TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG TỔ TIÊN

Tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên chủ yếu thể hiện một cách rõ nét ở người Việt (Kinh) từ Bắc vào Nam thông qua những nghi lễ, thiết chế tương đối qui củ, chặt chẽ.

Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên tiếp nối tín ngưỡng Tô tem giáo. Tô tem giáo ra đời trong xã hội Thị tộc. Đó là một xã hội sơ khai. Mỗi tổ chức Thị tộc có những hình thức thờ cúng riêng trong khuôn khổ thờ cúng các vật thiêng Tổ tiên.

Trong xã hội Thị tộc với một trình độ phát triển kinh tế, chính trị, xã hội và nhận thức về thế giới còn rất sơ khai, chưa đầy đủ, nên tín ngưỡng - tôn giáo đóng một vai trò thiết yếu. Nhưng trong buổi bình minh sơ khởi của lịch sử, con người chịu sự chi phối mạnh mẽ của tự nhiên. Họ tin tưởng vào các thế lực thần bí, siêu nhiên trong sự chi phối cuộc sống đang diễn ra nơi trần thế của mình. Do vậy, họ thần thánh các thế lực siêu nhiên, tự nhiên. Trong sự lựa chọn và trao gởi niềm tin chủ yếu họ dựa vào các thế lực tự nhiên (thần mưa, thần sấm, thần sông, thần núi, thần mây, thần biển…). Trong sự tôn thờ, tín ngưỡng các thế lực siêu nhiên mạnh mẽ đó thì con người trong thời kỳ này cũng thờ cúng các sự vật xung quanh, gần gũi với mình như : cá, chim, bò, các loại cây… Đây là hình thức tín ngưỡng Tô tem giáo. Tóm lại, sự thần thánh hoá các sự vật - hiện tượng trong tự nhiên là hình thức tín ngưỡng sơ khai đầu tiên của con người. Con người nhận thấy sự cần thiết phải tôn thờ các sự vật - hiện tượng tự nhiên, tạo ra mối liên hệ đầu tiên giữa con người với thế giới tự nhiên.

Mặt khác, khi trong các Thị tộc có người chết đi, con người còn nhận thấy một mối liên hệ khác giữa người sống với người chết. Theo quan niệm của họ thì con người sau khi chết thể xác mất đi nhưng linh hồn vẫn bất tử. Linh hồn vẫn tiếp tục một cuộc sống khác ở thế giới bên kia, ở nơi chín suối. Nó vẫn tồn tại những nhu cầu như người còn sống trên trần thế. Do đó, người ta chôn theo người chết những đồ tùy táng (chia theo thứ bậc, địa vị trong xã hội) để họ dùng ở thế giới khác. Càng về sau thì các hình thức, nghi lễ tống tiễn người chết về chốn suối vàng càng phong phú, đa dạng tùy vào phong tục, tập quán của từng vùng. Nhưng cốt lõi của những nghi thức này là thể hiện lòng thành kính, tình yêu thương, quý trọng của người sống đối với người đã khuất. "Từ ý niệm trên đây, mối liên hệ giữa người sống và người chết được tiếp tục duy trì, nhất là đối với cha mẹ ông bà qua đời, thì việc thờ cúng dần dần trở thành một tín ngưỡng - tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên"1. Tóm lại, tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên có nguồn gốc từ tín ngưỡng thờ cúng vật thiêng, sùng bái các hiện tượng siêu nhiên, tạo ra mối liên hệ giữa con người với thế giới tự nhiên. Còn trong thế giới của loài người bên cạnh sự sống cũng xuất hiện mầm móng của bệnh tật, tai nạn, chết chóc… nhưng con người thì bao giờ cũng mong muốn được lưu giữ người thân bên cạnh mình. Do đó, tục thờ cúng Tổ tiên ra đời như là một cách thức nhắc nhở sự có mặt của người đã khuất bên cạnh người thân của mình. Ơ người Việt nó đã nâng lên thành tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và nó có sức sống lâu đời cho tới ngày nay.

Khi bước vào xã hội phụ quyền, đặc biệt là thời kỳ phong kiến, người đàn ông đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong các hoạt động kinh tế và trong mọi sinh hoạt gia đình. Vì thế, quyền gia trưởng thuộc về người đàn ông. Ơ gia đình người đàn ông đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong các công việc thờ cúng, tế tự… cũng như là trụ cột của kinh tế của gia đình. Con cái mang dòng họ cha và đặc biệt những người con trai kế tục sự nghiệp của cha. Tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên xác lập theo dòng họ cha bắt đầu từ đấy. Trong thời kỳ phong kiến, thờ cúng tổ tiên trong gia đình, dòng họ thuộc về người con trưởng, trưởng tộc (con trưởng của dòng trưởng). Họ có vai trò, quyền lực to lớn trong gia đình, dòng tộc. Chính họ là những người quan trọng kế tục việc thực hiện các nghi lễ thờ cúng Tổ tiên trong gia đình, dòng họ.

Với một nền kinh tế thuần nông như nước ta từ bao đời nay, quan niệm về gia đình, dòng họ và các thang bậc giá trị không có sự thay đổi. Người đàn ông trong các xã hội trước đó luôn có một gánh nặng kinh tế chủ yếu trong gia đình và việc nối dõi tông đường. Đặc biệt người con trưởng phải lo các công việc tang ma, thờ tự, hôn nhân, lễ lộc… trong gia đình. Đó vừa là trách nhiệm vừa thể hiện quyền lực của người đàn ông trong gia đình.

Gia đình, làng xóm người Việt là nơi cất giữ kỹ càng truyền thống. Con người trong gia đình, dòng tộc không ai vượt qua cái ngưỡng cửa của "sự chết vào phần kia của đền thờ, vào trong cung thánh. Nhưng người này cũng như kẻ kia đều luôn trú ngụ dưới cùng một mái nhà. Các mối dây đã liên kết họ trong cuộc sống không bị cái chết tháo cởi…các mối dây này trở thành vững mạnh hơnvà trường cửu như việc thờ cúng Tổ tiên. Phải công nhận rằng gia đình, hiểu như thế mang một phẩm giá đặc biệt, một vẻ cao cả khiến người ta cảm kích…"2. Xã hội Việt Nam phát triển một nền nông nghiệp lạc hậu, nhưng bù lại con người trong xã hội đó thường rất coi trọng tình nghĩa; không chỉ đối với người sống mà còn đối với cả người đã khuất. Vì thế tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên được kế tục bền vững. Bởi "Sự hiện diện của Tổ tiên giữa gia đình như thế chẳng phải là một tình trạng hoàn toàn thụ động đâu… các Tổ tiên sau khi đã được dâng cúng đầy đủ những gì thiết yếu vào các dịp lễ lạc, họ sẽ an lòng và bày tỏ sự hiện diện của mình bằng cách đổ tràn ân lộc cho con cháu. Ngược lại, nếu họ chọn chỗ chôn cất không được tốt, hoặc quên cúng lễ cần thiết hay tỏ ra dè sẻn, thì các ngài sẽ báo thù hay trừng phạt những kẻ có tội và khi ấy phải dời hài cốt, cúng lễ, đền tội đối với các vị tổ tiên không được mãn nguyện, thể theo các chỉ dẫn của các thầy địa lý hay thầy phù thủy"3. Tổ tiên chính là mối dây liên kết gia đình, dòng họ. Vì thế tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên đã hình thành và lưu giữ lâu bền như thế từ đời này sang đời khác.

Mặt khác từ khi nước ta tiếp thu Nho giáo của Trung Hoa với việc đề cao chữ hiếu thì việc phụng thờ cha mẹ, thờ cúng tổ tiên trong gia đình, dòng họ thông qua những qui định về lễ thức ngày càng chặt chẽ. Dưới sự ảnh hưởng của Nho giáo trong xã hội phong kiến, vai trò người đàn ông trong gia đình vô cùng quan trọng. Người đàn ông không những có tiếng nói, trách nhiệm đối với cộng đồng xã hội mà đối với gia đình họ cũng phải gánh lấy trách nhiệm nặng nề với tư cách là trụ cột của gia đình; đặc biệt trong việc phụng dưỡng, hiếu để với ông bà, cha mẹ khi còn sống mà còn có nghĩa vụ thờ phụng khi họ mất đi. Chế độ phong kiến đã ban cho người đàn ông rất nhiều quyền hành ngoài xã hội và trong gia đình. Tuy nhiên trách nhiệm của họ cũng hết sức lớn lao. Dưới chế độ phong kiến ảnh hưởng của Nho giáo Trung Hoa, đặc biệt là việc đề cao hiếu nghĩa, người đàn ông có một phận sự vô cùng lớn lao đối với việc chăm lo cho cuộc sống vật chất của gia đình, hiếu thảo đối với ông bà, cha mẹ và thờ tự Tổ tiên. Tư tưởng hiếu đạo của Nho gia rất phù hợp với đạo lý truyền thống từ bao đời nay của người Việt Nam. Cho nên, qua hàng bao thế kỷ, tư tưởng này vẫn tồn tại và thấm nhuần trong mỗi người con đất nước. Nó không chỉ là một bổn phận đơn thuần mà còn là một thứ tình cảm thiêng liêng không gì thay thế được. Thờ cúng Tổ tiên trong gia đình, dòng họ trở thành một sứ mạng thiêng liêng của thế hệ sau đối với thế hệ trước đã khuất và truyền lại cho con cháu đời sau.

Con người Việt Nam rất trọng tình nghĩa. Vì thế từ khi Nho giáo du nhập vào nước ta với việc chữ hiếu được đề cao như vậy càng khiến cho việc thờ cúng Tổ tiên ngày càng thể chế hóa. Đặc biệt "Suốt thời Lê cho đến thời Nguyễn, đều có lệ khen thưởng những người con hiếu nghĩa "cha mẹ sống lấy lễ mà thờ, cha mẹ chết lấy lễ mà táng". Ơ nhà Nguyễn việc tang lễ và thờ cúng Tổ tiên qui định như là một luật tục khá chi tiết đầy đủ, được tác giả Hồ Sĩ Tân chép thành sách "Thọ Mai Gia Lễ" lưu truyền đến ngày nay"4.

II BẢN CHẤT VÀ MỘT SỐ NGHI LỄ CỦA TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG TỔ TIÊN

II BẢN CHẤT CỦA TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG TỔ TIÊN

Ở Việt Nam tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên có nguồn gốc từ xa xưa. Nhưng xét về bản chất nó có những biểu hiện cụ thể như sau:

Theo tác giả Toan Anh thì tín ngưỡng "Thờ phụng Tổ tiên không phải là một thứ tôn giáo, mà là lòng thành kính và biết ơn của con người đối với người đã khuất"5. Còn các công trình nghiên cứu của tác giả Đặng Nghiêm Vạn thì cho rằng: "Thờ cúng Tổ tiên là tôn giáo chính thống của người Việt Nam…"6. Ơ một công trình "Về tôn giáo tín ngưỡng ở Việt Nam hiện nay" ông lại viết "Đạo thờ cúng Tổ tiên được hiểu theo nghĩa rộng, không chỉ thờ những người có công sinh dưỡng đã khuất, những người cùng huyết thống, mà còn thờ những người có công với cộng đồng làng xã, đất nước". Ngoài ra tác giả Đặng Nghiêm Vạn trong công trình này cũng đề cập sâu hơn về qui mô, biểu hiện của đạo thờ cúng Tổ tiên: "Đạo thờ thần thành hoàng, dòng họ gia đình thờ tổ tiên. Đạo thờ tổ tiên cũng có thể coi là thờ thần bản mệnh, thần bảo vệ đất nước, quê hương gia tộc".7 Còn tác giả Nguyễn Đổng Chi trong công trình: Nông thôn Việt Nam trong lịch sử - Tín ngưỡng thì nhận xét, tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên "gần giống như một thứ tôn giáo"8. Riêng tác giả Lê Minh thì khẳng định thêm "thờ cúng Tổ tiên ở người Việt không chỉ được biểu hiện ở hai cấp nước và nhà, mà còn thấy sự thờ cúng tổ tiên của cộng đồng làng xã…những tổ tiên trung gian này cũng hết sức quan trọng"9. Tóm lại tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên cho đến hiện tại vẫn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau. Tuy nhiên những khia cạnh mà các nhà nghiên cứu đã đề cập đến đó là sự gợi mở đặc biệt quan trong cho chúng tôi khi nghiên cứu đề tài này.

Trước hết chúng tôi thống nhất với tác giả Nguyễn Đăng duy ở một số vấn đề về thờ cúng Tổ tiên. Tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên không phải là một tôn giáo.. Bởi mặc dù nó có những nghi lễ cụ thể nhưng không có những tín điều, giáo lý chặt chẽ cũng như những biểu hiện của việc thờ cúng mỗi nơi có những biến tấu khác nhau từ Bắc vào Nam. Mục đích cuối cùng của việc thờ cúng Tổ tiên không phải là tìm một cứu cánh cho sự chết mà nó thể hiện một sự tin kính, thương yêu của người đang sống đối với người đã chết và hy vọng người chết đi sẽ phù hộ, ban phước lành cho người trong gia đình, dòng họ. Nó "bao hàm một khía cạnh khác là tìm về cội nguồn"10. Do vậy, thờ cúng tổ tiên xét về bản chất nó là một tín ngưỡng, một truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta từ bao đời nay. Nó không phải là một tôn giáo như nhiều tác giả trong và ngoài nước nhận xét. Bởi ngoài tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên ra thì ở nước ta còn có tín ngưỡng thờ Thần , thờ Mẫu có qui mô rộng lớn hơn nhiều, biểu hiện ở trong làng, ngoài ngõ,và trên bình diện đất nước. Còn thờ cúng Tổ tiên là chủ yếu thờ những người đã khuất trong gia đình, dòng tộc cùng một huyết thống. Người ta làm tang ma, cúng tế, kỵ, giỗ… người thân từ ngày qua đời và nghi lễ đó chỉ giới hạn trong những người cùng họ hàng, huyết quản chứ không mở rộng ra khỏi gia đình, không vượt qua lũy tre làng, vượt qua không gian của ngôi từ đường của dòng họ, nhà thờ tự hay nhà riêng của người quá cố. Tổ tiên theo nghĩa cụ thể của nó là những người đã sinh ra thế hệ con cháu có cùng dòng họ, cùng dòng máu. Chứ không có tổ tiên sinh ra cả một làng, một ấp, một xã… Nói tóm lại bản chất của tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên trong cả nước (ở người Việt) đều mang chung ba khía cạnh sau đây:

"Thờ cúng những người trong cùng dòng họ, máu mủ đã khuất, theo từng đơn vị gia đình, gia tộc…

Nó mang tính chất là một hình thái tín ngưỡng, thờ tự, cúng lễ, cầu mong linh hồn ông bà Tổ tiên "phù hộ" cho hiện thực cuộc sống của con cháu.

Nó cộng thêm khía cạnh uống nước nhớ nguồn. "Công cha như núi Thái sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra"11.

Còn ở làng kông hề có tổ tiên sinh ra cả làng. Có chăng đó là những người khai làng, lập ấp, những ông tổ các ngành nghề thủ công… thì sự thờ cúng ghi nhớ công ơn của họ không mang tính chất như việc thờ cúng Tổ tiên của dòng họ. Việc thờ cúng đó diễn ra ở đền, miếu và những vị có công trạng lớn như vậy với dân làng thường được phong thần (Thần làng). Họ có thể là những con người thật từng sinh sống ở một đơn vị làng xã theo một dòng họ nhất định. Nhưng trong làng còn tồn tại nhiều họ khác. Sự không cùng huyết thống như vậy của cư dân trong làng xã với những người có công với làng thì rất được tôn kính, thờ phụng nhưng họ không thể là tổ tiên của cả làng. Cho nên, xét tận cùng cái lý đó thì tục thờ Thần làng không thuộc tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên. Nó ở mức độ rộng lớn hơn một gia tộc, một dòng họ với những nghi lễ đặc trưng riêng biệt mang tính chất hội hè, đình đám của cộng đồng ở một làng xã nhất định.

Tuy nhiên, cư dân sống trên đất nước Việt Nam là "Con rồng cháu tiên", được sinh ra từ một bọc trứng. Với truyền thuyết người con trưởng của Lạc Long Quân và Âu Cơ lên ngôi vua Hùng, dựng ra nhà nước Văn Lang thì có lẻ vấn đề tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên phải chăng nên xét lại một lần nữa về bản chất của nó?! Bởi lẽ chúng ta có ngày giỗ Tổ Hùng Vương mùng 10 tháng 03 âm lịch hàng năm. Trong ngày đó cả dân tộc đều hướng về miền đất của các vua Hùng để dâng lễ, cúng tế như một cách tri ân, nhớ về nguồn cội của mình. Bởi chính họ là Tổ tiên của dân tộc ta.

Ơ đây vấn đề đặt ra không có gì mâu thuẫn với những gì chúng ta đã đề cập ở trên. Bởi chúng ta thống nhất một điều tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên thuộc về một gia tộc, một dòng họ nhất định. Như vậy việc thờ cúng, giỗ chạp, nghi lễ chỉ diễn ra trong khuôn khổ những người cùng một huyết thống. Điều đó hoàn toàn có ý nghĩa thiêng liêng. Nhưng trong cuộc sống của mỗi con người, điều thiêng liêng không chỉ diễn ra trong mỗi gia đình, dòng họ của mình, trong nhà…Nó còn là sự biểu hiện của một thứ tình cảm thiêng liêng đối với quốc gia - dân tộc. Mỗi dân tộc đều có một nguồn gốc, cội rễ của mình. Và do vậy, thờ cúng Tổ tiên ở góc độ này được nâng lên tính chất quốc gia, dân tộc.

Như vậy, vấn đề nảy sinh là tại sao việc thờ cúng Thần làng, những vị có công khai sinh lập ấp, những ông tổ của các ngành nghề thủ công…không phải tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên; trong khi đó việc thờ cúng các vua Hùng ngày mùng 10 tháng 03 hàng năm lại được xem là dịp giỗ Tổ của cả nước. Điều đó có thể hiểu ở góc độ văn hóa truyền thống như là một cách tìm về cội nguồn (uống nước nhớ nguồn). Theo lời Bác Hồ dạy "Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải giữ lấy nước". Việc cả dân tộc cùng hướng về nguồn cội với tinh thần đoàn kết đồng bào bảo vệ và xây dựng đất nước là nghĩa vụ tình cảm thiêng liêng của bất cứ một quốc gia - dân tộc nào trên thế giới. Cho nên, ngày giỗ các vua Hùng mang ý nghĩa thiêng liêng của cả một dân tộc. Mỗi một dân tộc tự nhận mình thuộc về một nguồn gốc nhất định, cũng như chúng ta tự hào mình là con rồng cháu tiên vậy. Cho nên ngày mùng 10 tháng 03 như là ngày đặc biệt của dân tộc - con cháu của các vua Hùng, cùng hội tụ về đây để dâng hương tưởng niệm đến công đức của các vị đã khai sinh ra quốc gia - dân tộc. Chúng ta phải luôn ghi nhớ đến điều này và tự hào vì nó. Còn việc thờ Thành hoàng… thường thuộc về một làng xã nhất định. Những ngày lễ bái Thành hoàng thường gắn với hội hè, đình đám. Thành hoàng không phải người sinh ra cả làng hay cả dân tộc. Người ta tôn thờ các vị ấy cũng với một ý nghĩa thiêng liêng thuộc về một đơn vị làng xóm nhất định. Nhưng các vị này không phải là Tổ tiên của một làng nào đó. Cho nên chúng ta mặc dù tự hào từ cái bọc trăm trứng của mẹ Au cơ sinh ra nhưng không thể suy luận theo một logic rằng: từ cùng một tổ tiên đó mà con người sống trên lãnh thổ Việt Nam đều cùng một họ. Bởi lẽ, chúng ta đành rằng có cùng một nguồn cội, nhưng cũng chính từ đó những dòng họ khác nhau được sinh ra. Con người nào sống trên lãnh thổ đó đều thuộc về một gia đình, dòng họ nhất định. Cho nên người Việt Nam bên cạnh niềm tự hào về nguồn gốc rồng tiên của mình thì còn phải có tránh nhiệm, bổ phận thiêng liêng với dòng họ sinh ra mình. Như vậy, bên cạnh ý thực về một nòi giống cao quý thì con người Việt Nam có một ý thức cao độ về tính chất dòng họ, gia đình riêng tư của mình. Điều này đối với chúng ta đặc biệt quan trọng. Bởi chính nơi đó chúng ta được trực tiếp sinh ra và lớn lên. Vì thế, chúng ta phải có bổn phận đối với thế hệ sinh thành ra mình. Một trong những cách biểu hiện của bổn phận con cái đó là thương yêu, chăm sóc, hiếu thảo đối với cha mẹ, ông bà khi còn sống và thực hiện phận sự thờ cúng Tổ tiên khi đã khuất. Cho nên, trong gia đình, dòng họ việc thờ cúng Tổ tiên có ý nghĩa quan trọng nhất. Còn tưởng nhớ cội nguồn trong ngày giỗ Tổ Hùng Vương đó là một điều hết sức thiêng liêng của mỗi người con trên đất nước này.

II NHỮNG NGHI LỄ CỦA TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG TỔ TIÊN

Thờ cúng tiên bắt đầu từ khi ông bà, cha mẹ qua đời cho đến hết năm đời con cháu kỵ giỗ mang tính chất kỷ niệm.

Trước tiên nó bắt đầu từ nghi thức tang lễ khi ông bà, cha mẹ qua đời. Mỗi cộng đồng tộc người sống trên lãnh thổ Việt Nam đều có những quan niệm và những nghi thức riêng về tang lễ. Đối với người Việt (Kinh) tang lễ bắt nguồn từ quan niệm của Phật giáo, Nho giáo và cả Đạo giáo. Cúng lễ bắt đầu khi quan tài còn quàn trong nhà(tính từ lúc thi hài được khâm liệm trong áo quan đã lập bàn thờ thờ hồn bạch người chết, sau đó là lễ phục hồn, lễ chúc thực, lễ đưa tang - đưa linh hồn người chết an toàn về thế giới bên kia). Sau khi mai táng xong thì người ta đưa hồn bạch về lập bàn thờ người mới chết bên cạnh bàn thờ Tổ tiên; phía trên treo bức đại tự viết trên vải với những dòng chữ khác nhau tùy vào vị trí người chết trong gia đình (cha, mẹ, chồng, vợ). Sau đó người việt bắt đầu lịch lễ cúng người chết: lễ cúng cơm hàng ngày, cúng cơm 3 ngày (cúng mở cửa mả), cúng tuần 7 ngày, phải cúng đủ 7 tuần (49 ngày). Cúng 49 ngày để giải toả phần tiểu vũ trụ đã hình thành nên thể xác con người bao gồm có hồn có vía (theo quan niệm của phương Đông người đàn ông có 3hồn 7vía còn người phụ nữ có 3hồn 9vía), để linh hồn đầu thai kiếp khác. Sau khi người chết đi cúng đủ 100 ngày thì thôi không phải cúng cơm hàng ngày nữa. Bởi người ta quan niệm lúc này linh hồn đã có thể tự lập ở thế giới bên kia. Người thân mất đúng một năm thì thực hiện cúng giỗ lần đầu tiên và khi giỗ 3 năm thì con cháu được đoạn tang. Người chết chuyển sang làm người ở kiếp khác trong vòng luân hồi. Sau khi hêt thời gian cúng người chết thì bạch hồn người chết hóa đi, tên cúng cơm được viết vào bài vị, nhập vào hàng bài vị thờ cúng Tổ tiên, nhằm nhắc nhở con cháu nhớ ngày kỵ của ông bà, cha mẹ. Quá trình chịu tang trong 3 năm là để con cháu suy ngẫm, tưởng nhớ một cách chân thành nhất công ơn cao cả của ông bà, cha mẹ đã sinh dưỡng cho mỗi thành viên trong gia đình khôn lớn nên người. Do đó, họ càng ý thức sâu sắc hơn trách nhiệm thờ cúng Tổ tiên để họ được an ủi linh hồn, thỏa lòng nơi chín suối. Vì thế nghi lễ thờ cúng Tổ tiên vì thế càng có ý nghĩa quan trọng, thiêng liêng hơn. Cúng giỗ Tổ tiên thuộc về trách nhiệm của người con trai cả dòng đích. Nếu trong gia đình người cha đã mất thì con trưởng sẽ kế tục thờ cúng Tổ tiên. Còn nếu người con trưởng cũng mất sớm mà người con trai kế tự còn nhỏ thì "việc thờ cúng Tổ tiên sẽ thuộc về người mẹ trong gia đình. Nhưng nếu người con trai cả chết không có con trai kế tự, mà chỉ có con gái thì người vợ mất quyền thừa kế thờ tự cúng giỗ Tổ tiên nhà chồng. Trong trường hợp này, quyền thứa kế thuộc về các con trai của người em thứ nhất hoặc người em thứ hai"12. Tuy trách nhiệm thờ cúng Tổ tiên chủ yếu thuộc về con cả dòng đích nhưng tất cả con cháu trong gia đình, dòng họ đều phải có bổn phận cùng tham gia vào ngày kỵ, giỗ Tổ tiên.

Việc thờ cúng Tổ tiên quan trọng nhất vào ngày kỵ giỗ, đúng vào ngày ông bà, cha mẹ qua đời. Theo tục lệ, vào ngày giỗ, các con cháu góp giỗ, tụ hội về nhà người con trưởng dòng đích, phụ nữ thì lo công đoạn chuẩn bị thức ăn; đàn ông, con trai thì dọn bàn, sắp xếp cổ bàn cúng gia tiên. Sau đó, con cháu cùng hưởng lễ ăn uống cùng nhau và cùng với khách mời trong buổi kỵ giỗ ông bà, cha mẹ. Trong ngày hôm đó con cháu tụ họp lại bàn lễ vật lên bàn thờ cúng gia tiên và cùng nhau ăn uống cổ lễ, nhắc nhở lại những kỷ niệm với người đã khuất. Tất cả những việc làm đó của con cháu thể hiện sự tưởng nhớ, lòng thành kính thương yêu của con cháu đối với ông bà, cha mẹ. Điều đó làm dấy lên lòng hiếu thảo của con cháu đối với cha mẹ, tổ tiên. Tổ tiên vì thế luôn hiển hiện trong cuộc sống của con cháu trong gia đình không chỉ trong ngày kỵ giỗ mà còn trong các ngày lễ tết trong năm, đặc biệt là ngày tết cổ truyền của dân tộc. Nói tóm lại, trong tâm thức của người Việt thì tổ tiên luôn luôn hiển hiện trong mọi sinh hoạt của cuộc sống con người trong hiện taị.

Bàn thờ gia tiên được thiết chế theo những qui định chặt chẽ. Trong ngôi nhà thì gian giữa là quan trọng nhất, đặt bàn thờ gia tiên. Bàn thờ gia tiên là nơi hết sức thiêng liêng và nó được bố trí theo một trật tự nhất định. Nơi cao nhất của bàn thờ gọi là giường hành, trên đó đặt cổ ngai, trong ngai đặt bài vị Thủy tổ hoặc Tiên tổ chi chủ. Tiếp xuống đặt bài vị kỵ ông - kỵ bà, cụ ông - cụ bà, ông - bà, cha - mẹ. Ngoài ra chỗ đặt bài vị có thể có những bài vị nhỏ thờ nhựng người chết trẻ chưa lập gia đình. Tiếp xuống đặt Còn các gian khác thì cũng phải theo trật tự bố trí chặt chẽ. Tất cả mọi hoạt động của con cháu trong nhà đều diễn ra trước mắt Tổ tiên. Tổ tiên vì thế hàng ngày, hàng đời sống bên cạnh con cháu, theo dõi, dẫn dắt con cháu mọi công việc làm ăn hoạt động của con cháu trong nhà. Ơ những dòng họ lớn quan lại giàu có ngày xưa thì việc thờ cúng tổ tiên không kém việc thờ Thần hoàng. Ngôi nhà gỗ đại khoa được dựng lên để làm nhà từ đường thờ cúng tổ tiên.



1 Nguyn Đăng Duy, Các hình thái tín ngưỡng tôn giáo Vit Nam, NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Ni, Năm 2001,Tr 28.

2 Léopold Cadìere, V văn hóa và tín ngưỡng truyn thng người Vit, NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Ni, Năm 1997, tr 40.

3 Léopold Cadìere, Sđd,…, Tr 44.

4 Nguyn Đăng Duy, Sđd,.., Tr 31.

5 Toan Anh, Nếp cũ tín ngưỡng Vit Nam, NXB Tp. H Chí Minh, Năm 1992.

6 Đặng Nghiêm Vn, Đim qua tình hình tôn giáo hin nay, NXB KHXH, Hà Ni, Năm 1994.

7 Đặng Nghiêm Vn ch biên, V tôn giáo tín ngưỡng Vit Nam hin nay, NXB KHXH, Hà Ni, 1994, Ttr 315, tr 317.

8 Nguyn Đổng Chi, Nông thôn Vit Nam trong lch s - Tín ngưỡng, NXB KHXH, Hà Ni, 1978.

9 Lê Minh (ch biên), Thc trng văn hóa gia đình Vit Nam, NXB Lao đng, Hà Ni, Năm 1994, Tr 300.

10 Nguyn Đăng Duy, Sđd…, Tr 32.

11 Nguyn Đăng Duy, Sđd…, Tr 38-39.

12 Nguyn Đăng Duy, Sđd…, Tr 56.

DANH MUC SACH TIENG VIET LUU TRU TAI THU VIEN QUOC GIA PHAP

Danh mục sách lưu trữ tại thư viện quốc gia Pháp

Tên sách

Tác giả

Năm xb

Nhà in

Code

Alê xù truyện

1919

Imp. De la Mission

8o Ya. Piece. 293

Alphabet syllabaire et exercice de lecture en quocngu….

1910

Imp. De la Mission Catholique

8o X. Piece.2154

Âm chất văn diễn ca, cảm ứng, cứu khổ (diễn ra văn quốc ngữ)

Phan Trang Dức

1922

Imp. De l’union Nguyễn Văn Của

8o Ya. Piece. 590

Âm chất văn diễn ca, sau có cảm ứng diễn ca giản luận với công quá cách

Trần Đằng Huy

1917

Imp. F.H. Shneider

8oYa. 476

Ân tìh thi vịnh

Ed. Par Huỳnh Kim Danh

1912

Imp. Huỳnh Kim Danh

8oYa. 484

An Nam Phật học hội Điều lệ và quy tắc

AN Phật học hội

1932

Imp. Mirador

8o021. 969

Appendix ad dictionarium latino-anamiticum = Conchin-chinese vocabulary = vocabulary cochinchinoise = tự vị an nam

1838

X. 4656

Vocabulaire francaise annamite

Aubaret (Gabriel)

1861

Imp. De la Mission Catholique

X. 20520

Bá nhẫn ca : Nói về sự làm người phái nhẫn

Huỳnh Thúc Mậu

1916

Imp. F.H. Shneidere

8o. R. 30070

Bác Dương kinh

Cao Văn Lỏi

1919

Imp. De l’union dNguyễn Văn Của

8o 021. 434

Bạch viên tôn các thơ

Đặng Lễ Nghi

1911

Imp. Phát toán

8o Ya. Piece. 127

Bạch viên tôn các truyện

Huỳnh Kiim Danh

1911

Imp. F. H. Shneider

8o Ya. Piece. 117

Bạch xà diễn nghĩa

Đinh văn Đấu dịch

1017

Imp. Huỳnh Kim Danh, et F.H. Shneider

8o Y2. 24564

Bạch xà thanh xà diễn nghĩa.

Cao Hải Để

1915

Imp., Nguyenẽ Văn Viết

8o Y2 Piece. 2666

Bài ca ân tình

Huỳn văn Ngà dịch

1916

8oYa. 425

Bài ca bát tài tử

1913

8o Ya. Piece. 220

Bài ca cải lương

Nguyễn Thường Ký dịch

1922

`

8o Ya. Piece. 600

Bài ca Lục vân tiên mới đặt.

Ed. Par Đặng thanh kim

1913

8o Ya. Piece. 241

Bài ca Lục vân tiên theo lối kiêm thời : cuốn thứ nhất.

Trad. Par Trần tựu thành

1923

`

8o Ya. 626

Bài ca mới thập nhị tài tử

1914

Phát Toán

8o Ya. Piece. 546

Bài ca nhị thập tứ hiếu

Trad. Par Huỳn Văn Ngà

1916

Imp. J. Viết

8oYa 422

Bài ca Sáu trọng toàn bổn

Huỳnh V., Liêng

1916

Imp. J. Viết

8o Ya Piece 208

Bài ca tình nhân, cữu tài tử tiếp theo

Nguyễn Đăng Giai dịch

1916

Imp. Union

8o Ya. Piece 210

Bài ca tứ tài tử

ĐẶng Nhiều Hơn

1915

Imp. De l’union

8o Ya. Piece. 206

Bài gẫm dọn ra theo cách kiểu ong thanh A. de Ligorio

1924

Imp. De la Mission

D. 74855

Bài giảng khen trường kỳ chùa Giác Lâm

1922

Fol Ya. Piece. 2

Bài Giang Nam

1920

`

8o Ya. 569 (2)

Bài Hịch con quạ

Trương Vĩnh Ký chép ra quốc ngũ và giải nghĩa

1883

8o Ya Piece. 61

Bài ông địa và tiên nương : hát đối đáp theo cuộc múa bông

Lê Xuân Sắc trad.

1915

Imp. Saigonaise L. Roỷe

8o Ya. Piece. 194

8o Ya. Piece 195

Bài thơ và lời evang đọc ngày chúa lễ cả trong năm

1906

Imp. De la Mission

D. 73417

Bản đờn kiềm

Trad. Nguyễn Tùng Bá

1913

Imp. De l’Union

8o Ya. Piece. 343

Dictionnaire francaise – annamite

Barbier (Victor)

1924

Imp. D’Extreme orient

8o X. 17462

Exercice gradue pour servir a l’etude de la langue annamite

Barbier (Victor)

1926

Imp. D’Extreme Orient

8o X. Piece. 2769

Lex expression comparatives dans la langue annamite

Barbier (Victor)

1925

8o X. Piece. 2746

Grammaire annamite

Barbier (Victor)

1925

8o X. 17467

Nouveau vocabulaire francaise – tonkinoise et tonkinoise – francaise

Beauregard (Crepin B. de)

1925

8o X. 17501

Premier lecón d’annamite ….

Berjot (j.)

1907

8o X. Piece. 1832

Bích câu kỳ ngộ

Lê Kim Giang

Hà Nội, Phu Vân

1922

8o Ya. Piece. 578

Biên phận tà chính

Bangkok

1844

8o X011. 1794

Biên phận tà chính. Mặc tưởng thần công

1842

8o X011. 1750

Bình sanh lãnh yến toàn ca : tho tứ tài tử

Trần Phong sắc

1924

Imp. Du centre

8o Ya. 625

Premiere lecture francaise a l’usage des elevé des ecole cantonais

Blaquiere (H.)

1907

8o X. 13 176 (1-2)

Bội phu quả báo : tuồng hát cải lương

Phạm Công Bính

1924

8o Ya. 637

Lexique francaise annamite

Bolliet (Mme W)

1917

8o X. 15 779

Manuel de conversation franco-tonkinoise

Bon (Cố Bản) et Dronet (cố Ân)

1889

8o X. 13859

Bổn dạy chầu nhưng

1911

D. 89012

Bổn dạy chữ mẫu ABCD…. Cùng phép đánh vần

1884

SG, imp. De la Mission

8o X. Piece. 1114

Bổn dạy đánh vần tiếng lang sa

1892

8o X. Piece 990

Bổn dạy đánh vần tiếng Lang Sa

1906

SG. Imp. De la Mission

8o X. Piece 1790

Bổn dạy tiếng Latinh

1869, SG.

8o X011. 1734

Bổn dạy về sự ái mộ nguyện gẫm cùng về sự tĩnh tâm

1918

D. 74 791

Bốn mươi bảy điều giáo hoá triều Lê

Trần Trọng Kim

HN. 1928

Trung Bắc Tân Văn

8o Ya. 748

Dictionnaire annamite francaise

Bonet (jean)

Paris, 1899

4o X. 1726

Bóng cầu mời : Hội Bác tiên

Đinh lễ nghi

SG. 1915

Imp. De l’Union

8o Ya. Piece. 188

Tam Quốc tuồng

1913

8o Ya Piece 234

Sãi Vãi

Cheon…

1886

8o Ya 39

Manuel franco-annamite de conversation usuelle

SG. 1906

8o X. 13 175

Methode de lecture franco-annamite

Boscq

1910

8o X. 14. 664

Morale et lecon de chose en quoc ngu

Boscq (Jean C. )

1898

8o R. 15 534

Gương thế sự : ngụ ngôn văn tập

Bùi Huy cường (Nam Hương)

1924

thuỵ ký, Hn

8o Ya. Piece. 629

Nhời con trẻ : bài tập đọc và bài học thuộc lòng

Bùi Huy Cường

1923

Thanh niên ấn quán

8o Ya. Piece. 586

Sách họ quốc ngữ vỡ lòng

Bùi Kim tiến (Nam thanh)

1923

Nghiêm Hàm ấn quán

8o X. Piece. 2711

Bướm hoa truyện

kNguyễn Hữu tình

1922

HN. Vĩnh thành công ty in

8o Ya. Piece. 597

Bìa ca Giang nam Phụng cầu

1915

SG. Imp. De l’Union

8o Ya. 424

Ca hát các ngày lễ trong năm (catholique)

1842

8o X011. 1744

Ca ngợi đức chúa bà Maria

1907

8o Ya. 282

Ca ngợi đức chúa Giê xu

1888

8o Ya. 128

Ca từ diễn nghĩa

Trương Minh Ký

1896

8o Ya. 153

Tình non nước

Cấn Vũ Ích

1924

HN. Thuỵ Ký

8o Ya. 365

Ơn nước nợ nhà

Cao Hải Để

1924

SG. Imp. Du Centre

8o Y2 25162

Bác kiết nội gia

Cao Văn Lợi

1919

8o 021. 435

Sách tiếng thổ

Cao Xuân Thiện

1923

HN

4oX. Piece. 294

Câu hát góp

Huỳnh Tịnh Của

1897

SG

8o Ya. Piece. 40/72/115

Câu hát huê tình

Thiên Hương

1911

Sg

8o Ya. Piece. 112

Câu hát kiêm thời

Đặng lễ nghi

1915

GS

8o Ya. Piece191

Câu hát và hò góp

Đặng Tấn Tài

1915

SG

8o Ya. Piece 196

Cháng nhái kiễn tiên

Đặng Lễ Nghi

1910

SG

8o Ya. 356

Chánh tà : vãn. lục súc tranh công

1889

8o Ya. Piece. 25

Tấm gương trinh bạch

Châu minh Tạo

1925

8oR. Piece. 16399

Cours de langue annamite

Chéon (Jean Nicolas dit A.)

1904

HN, imp. Shneider

4o X. 785

Recueil de formules sino-annamite

Chéon

1905

HN. Shneider

8o X011. 1735

Chí hiếu thành tiên

Đặng Lễ Nghi

1913

SG

8o Ya. Piece. 362

Chiêu quân cống hồ

Đặng Lễ Nghi

1917

SG

8o Ya. Piece. 364

Chữ chung tình

Mai Phương dịch

1924

Hải Phòng

8o Y2. Piece. 2677

Chú lái buôn thành Venise (Shakespeare)

Nguyễn Hảo Vĩnh dịch

1920

SG.

8o Y2 24923

Chung Vô Diệm

Nguyễn Hữu Sanh

1910

SG. Shneidẻ

8o O2 1. 341

Chyenẹ đời xưa (chuyện Việt Nam)

Abel dé Michel

1888

Z. renan. 8 887

About Me

Hochiminh-City, Mien Nam, Vietnam
Tiến sĩ Sử học, giảng viên Truong Dai hoc Khoa hoc xa hoi va nhan van - Đại học Quốc gia TP.HCM